Hồ Chủ tịch "bén duyên" nghề báo thế nào?

 Từ những tin ngắn...


Năm 1911, Bác Hồ còn là một thanh niên mang tên Nguyễn Tất Thành đã xin làm bồi tàu để được đi ra thế giới mở rộng kiến thức. Năm 1919, Bác trở về Pháp sống với cụ Phan Châu Trinh và luật sư Phan Văn Trường. Chính trong thời gian này, Nguyễn Tất Thành đã viết bản yêu sách gửi hội nghị Versailles để yêu cầu tự do, bình đẳng cho dân An Nam.

BÁC HỒ VỚI BÁO LE PARIA -

Cuốn sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch kể rằng, khi viết bản yêu sách gửi hội nghị Versailles, Nguyễn Tất Thành ký dưới bản yêu sách này cái tên Nguyễn Ái Quốc và từ đây cái tên ấy được muôn người trong nước cũng như thế giới biết đến. 

Mặc dù bản yêu sách không được hội nghị các nước đế quốc xem xét nhưng Nguyễn Ái Quốc không nản lòng. Bỏ hết số tiền dành dụm được để thuê in bản yêu sách thành truyền đơn, Nguyễn Ái Quốc đã đem một phần gửi về trong nước qua các thủy thủ, một phần đem phân phát tại Paris.

Không ngờ, bản yêu sách được tờ báo Dân Chúng đăng lên. Cảm kích, Nguyễn Ái Quốc đến tòa soạn tờ báo để cảm ơn. Chủ nhiệm báo – ông Jean Longuet là cháu ngoại của Karl Marx và là nghị sĩ Quốc hội Pháp đã tiếp Nguyễn Ái Quốc rất thân mật. Ông gọi Nguyễn Ái Quốc là đồng chí và bày tỏ rằng, ông rất có cảm tình với nhân dân An Nam, đồng thời ông khuyến khích Nguyễn Ái Quốc viết tin tức ở thuộc địa cho báo của ông nhằm làm cho người Pháp hiểu rõ những bất công xảy ra ở An Nam.

Được ông Jean Longuet động viên, Nguyễn Ái Quốc thường lui tới tòa soạn báo Dân Chúng để học hỏi và cũng tích cực làm quen với những người Pháp khác. Trong số đó, có ông chủ bút tờ Đời sống thợ thuyền. Ông này chính là người đầu tiên dạy Nguyễn Ái Quốc những kỹ năng làm báo.

Ban đầu, ông bảo Nguyễn Ái Quốc viết tin tức ở thuộc địa cho báo. Tin tức thì không thiếu nhưng Nguyễn Ái Quốc còn chưa giỏi mặt viết lách bằng tiếng Pháp. Biết vậy, ông chủ bút động viên: “Có thế nào anh viết thế ấy, tôi sẽ chữa bài của anh trước khi đưa đi in. Anh không cần viết dài; 5 hay 6 dòng cũng được”. Nguyễn Ái Quốc bắt đầu học viết báo như thế.

Những mẩu tin đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc viết rất khó khăn. Khi viết xong lại cẩn thận chép thành 2 bản. Một bản gửi cho tòa soạn còn một bản thì giữ lại. Lần đầu tiên được đăng báo, Nguyễn Ái Quốc vô cùng vui sướng, đọc đi đọc lại rồi lấy bản gốc ra để so đọ xem người ta sửa như thế nào để rút kinh nghiệm và học hỏi cách viết. Cứ như thế một thời gian, Nguyễn Ái Quốc đã nắm được cách viết tin.

Khi viết tin ngắn đã bớt sai, ông chủ bút lại bảo: “Bây giờ anh viết dài hơn một tí, viết độ 7, 8 dòng”. Cứ theo cách kéo dài dần dần ấy, Nguyễn Ái Quốc đã viết được cả một cột báo hoặc có khi dài hơn. Đúng lúc ấy, người chủ bút lại bảo: “Bây giờ anh viết ngắn lại. Viết từng này hoặc từng này dòng, không viết dài hơn”.

Phải rút ngắn lại trong khi đang quen viết dài cũng khổ như lúc ban đầu đang viết ngắn phải kéo dài ra. Nhưng với sự cố gắng nghiêm túc, Nguyễn Ái Quốc đã làm được theo yêu cầu của người thầy. Đến lúc đó, Nguyễn Ái Quốc đã nắm vững kỹ năng viết báo, có thể viết ngắn dài tùy ý mình.


... Đến Người làm báo thông minh

Sau khi học được kỹ năng viết báo, cùng với việc gửi bài đăng lên các tờ báo Pháp, Nguyễn Ái Quốc còn sáng lập một tờ báo của riêng mình. Vẫn cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch cho biết: “Để mở rộng tuyên truyền đến các thuộc địa, ông Nguyễn cùng các đồng chí của ông ra tờ báo Người cùng khổ - Le Paria do ông là chủ bút kiêm chủ nhiệm. Những người yêu nước Mangat, Angieri, Mactinich là những luật sư, thầy thuốc, nhà buôn hoặc sinh viên. Họ có công việc và gia đình của họ. Họ không thể để nhiều thì giờ cho tờ báo. Mọi người chỉ có thể góp một số tiền nhỏ và 1 bài báo mỗi tuần. Ông Nguyễn được mọi người cử ra làm cho tờ báo chạy. Vì vậy, ông kiêm cả viết, chủ nhiệm, chủ bút, chữa bài, thủ quỹ, xuất bản và liên lạc”.

sites.google.com/site/thcstanbinhtd/_/rsrc/1511...

Ở Paris có vô số báo ra mỗi ngày nên tờ Le Paria ban đầu gửi bán ở các sạp báo không chạy mấy. Nguyễn Ái Quốc bèn làm cách khác. Ông mang báo đến các buổi mít tinh phát cho dân chúng, rồi lên diễn đàn nói: “Các bạn thân mến, báo Người cùng khổ phát không nhưng tôi hết sức cảm ơn nếu các bạn vui lòng quyên góp giúp ít nhiều để giúp chúng tôi trả tiền in. Một xu, một quan, nhiều ít cũng tốt”. Những người Pháp dù nghèo cũng sẵn lòng rộng rãi cho nên Nguyễn Ái Quốc đã thu được những khoản tiền đủ chi trả cho tổn phí ra báo, đôi khi còn dư nữa.

Ngoài tờ Le Paria, trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ đã lập ra nhiều tờ khác nữa. Trong số đó có tờ Thanh Niên ra ngày 21/6/1925 là cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Sau này lấy ngày 21/6 là ngày kỷ niệm báo chí Việt Nam là từ dấu mốc đó.

Là lãnh tụ cách mạng, đồng thời Bác Hồ cũng được coi là người khai sinh nền báo chí cách mạng Việt Nam vì vào ngày 21/6/1925 người cho ra tờ báo Thanh Niên là cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên do người làm chủ bút. Báo chí đối với Bác Hồ là một phương tiện vận động cách mạng, tuyên truyền cách mạng. Trong nhiều năm làm báo, Bác Hồ đã để lại một gia tài báo chí đồ sộ với hàng nghìn bài viết ký nhiều bút danh khác nhau. Nhiều bài bình luận, xã luận của Bác đến nay vẫn được trích dẫn trong các giáo trình dạy báo chí như những tác phẩm mẫu mực.

Cuộc gặp lịch sử giữa Hồ Chí Minh với V.I. Lênin

Cuối năm 1923 Nguyễn Ái Quốc đã đến Mát-xcơ-va. Nhưng V.I. Lênin đang ốm nặng. N.C. Crúp-xcai-a-người bạn đời thân thiết của V.I. Lênin tiếp người cộng sản phương Đông trẻ tuổi này. Nguyễn Ái Quốc trở thành học viên Trường Đại học Phương Đông tại Mát-xcơ-va với các hoạt động trong phong trào cộng sản quốc tế.

Cuộc gặp lịch sử giữa V.I. Lênin với Nguyễn Ái Quốc ở "Sơ thảo những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa"… Những năm tháng sau đó Nguyễn Ái Quốc ước ao được gặp V.I. Lênin- Lãnh tụ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, người đã lập ra Nhà nước đầu tiên với những bước đi đầu tiên để không có người bóc lột người, mọi người đều bình đẳng, ấm no… Nhờ có học thuyết của V.I. Lênin, người cộng sản Nguyễn Ái Quốc đã nhìn thấy con đường rõ rệt để giải phóng các dân tộc thuộc địa, trong đó có dân tộc Việt Nam.


Cuối năm 1923 Nguyễn Ái Quốc đã đến Mát-xcơ-va. Nhưng V.I. Lênin đang ốm nặng. N.C. Crúp-xcai-a-người bạn đời thân thiết của V.I. Lênin tiếp người cộng sản phương Đông trẻ tuổi này. Nguyễn Ái Quốc trở thành học viên Trường Đại học Phương Đông tại Mát-xcơ-va với các hoạt động trong phong trào cộng sản quốc tế.


Một nỗi đau lớn đến với Nguyễn Ái Quốc và nhân dân lao động, ngày 22-1-1924 V.I. Lênin từ trần. Lá cờ rủ băng tang đen trên toà nhà của Xô-viết Mát-xcơ-va…


Ngày 27-1-1924, báo Sự Thật Liên Xô đăng bài của Nguyễn Ái Quốc "Lênin và các dân tộc thuộc địa" nói lên niềm khao khát tự do, độc lập của các dân tộc thuộc địa khắp năm châu được ánh sáng học thuyết Lênin vạch đường, chỉ lối. Tại Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ V, tham luận về vấn đề dân tộc và thuộc địa tháng 7-1924, Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh cần tập trung sức lực để thực hiện những di huấn của V.I. Lênin về vấn đề thuộc địa cũng như những vấn đề khác.


31 năm sau khi V.I. Lênin qua đời, Bảo tàng Phòng làm việc và nơi ở của V.I. Lênin chính thức mở cửa. Người nước ngoài đầu tiên đến thăm Bảo tàng là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà-Hồ Chí Minh - Nguyễn Ái Quốc của những năm tháng sống và học tập, làm việc ở Liên Xô trước đây. Trên trang đầu của cuốn Sổ ghi cảm tưởng của Bảo tàng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:


“Lênin,người thày vĩ đại của cách mạng mạnh vô sản. Cũng là một vị đạo đức rất cao, dạy chúng ta phải thực hiện cần kiệm, liêm, chính.

Tinh thần Lênin muôn đời bất diệt”.

13-6-1955 Hồ Chí Minh

200 cây vàng đấu giá áo len của Bác Hồ

200 cây vàng đấu giá áo len của Bác Hồ

Chiếc áo len màu be, cổ tròn là món quà của Bác Hồ tặng cho các chiến sĩ vào mùa đông năm 1946. Và nó đặc biệt hơn khi chiếc áo đó được Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam mang ra đấu giá…

“Một vị lãnh tụ cởi chiếc áo đang mặc tặng các chiến sĩ, những người dân dốc hết gia sản của mình may áo tặng binh sĩ. Một đất nước, một dân tộc có người lãnh tụ như thế, có những người dân như thế có thể đánh thắng bất kỳ kẻ thù nào”.

Đấy là nhận xét của các sử gia nước ngoài về chiếc áo len Bác Hồ trị giá 200 cây vàng hồi năm 1946.


Buổi đấu giá lạ kỳ
image

Chiếc áo len màu be, cổ tròn là món quà của Bác Hồ tặng cho các chiến sĩ vào mùa đông năm 1946. Và nó đặc biệt hơn khi chiếc áo đó được Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam mang ra đấu giá chiều ngày 18.12.1946 trong Chương trình “Tuần lễ vàng”.

Tuy nhiên, không phải ai cũng biết nhiều về lai lịch cụ Trương Văn Thìn - người đã bỏ ra đến 3.500 đồng bạc Đông Dương (tương đương gần 200 lượng vàng) để mua chiếc áo đặc biệt này.
Chúng tôi đã may mắn được gặp ông Trương Anh Tuấn – con trai thứ 2 của cụ Thìn - tại ngôi nhà nhỏ ở 39 phố Thi Sách, Hà Nội. Sinh năm 1914, cụ Trương Văn Thìn ngay từ thuở thiếu thời đã khá chí thú vào công việc kinh doanh.

Với đầu óc khá nhanh nhạy, chỉ trong một thời gian ngắn, cụ Thìn đã là một trong những người buôn hạt giống lớn nhất miền Bắc. “Vua hạt giống” là từ chỉ về cụ Thìn thời bấy giờ. Không chỉ thế, cụ còn sở hữu khá nhiều biệt thự to và đẹp nhất Hà Nội cùng một cửa hàng bánh ngọt lớn.

Toàn quốc kháng chiến nổ ra, mùa đông năm 1946, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban Vận động “Mùa đông binh sĩ” đã họp để phát động phong trào may áo trấn thủ cho chiến sĩ.

Chiều ngày 18.12.1946, tại Nhà hát Lớn thành phố, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam tổ chức Chương trình “Tuần lễ vàng". Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ đã đến dự.

Tại buổi lễ, Bác Hồ đã cởi chiếc áo len mà Người được tặng, đang mặc trên người để tặng lại các chiến sĩ. Chiếc áo sợi pha len mà Hồ Chủ tịch gửi tặng các chiến sĩ đã được Ban Vận động ủng hộ “Mùa đông binh sĩ” Hà Nội tổ chức đấu giá tại Nhà hát Lớn thành phố để lấy tiền ủng hộ chiến sĩ nơi mặt trận…

Thể lệ cuộc đấu giá cũng “vô tiền khoáng hậu”: Mỗi người muốn được quyền sở hữu chiếc áo khi trả giá đều phải nộp tiền vào quỹ, ai trả hơn nữa cũng bỏ tiền vào quỹ dành mua áo cho chiến sĩ… Cứ như vậy cho đến khi không còn ai trả giá cao hơn thì người cuối cùng được quyền sở hữu chiếc áo đó.

Cụ Thìn là người may mắn lọt vào vòng giá cuối cùng với số tiền là 3.500 đồng Đông Dương. Buổi đấu giá kết thúc, từ chiếc áo len đã thu được tổng số tiền là 4 vạn đồng Đông Dương.

Bảo vật thiêng liêng

Lúc đó, trong nhà cụ Thìn chỉ còn 1.000 đồng bạc Đông Dương. Đấu giá thắng mà không đủ tiền nộp cho Ban Tổ chức để mất món quà vô giá của Bác thì thật đáng tiếc. Không do dự, cụ đã bán ngôi nhà tại phố Nguyễn Gia Thiều và bảo vợ mình là bà Dung mang bán hết đồ tư trang (kiềng, xuyến vàng…) để có đủ 3.500 đồng bạc Đông Dương chuyển cho Ban Tổ chức (bà Dung là con gái cụ Nguyễn Bân – Tước Thái bảo thái tử, người dạy học cho các Thái tử nhà Nguyễn, hiện tên vẫn còn trong bảng vàng của hoàng cung Huế).

Chiếc áo len của Bác Hồ là bảo vật thiêng liêng nên được cụ Thìn hết sức giữ gìn, dù thời cuộc trải qua nhiều biến động. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, gia đình cụ Thìn tản cư về các tỉnh Hà Nam, Sơn Tây… Trên đường tản cư luôn bị bọn lính đón đầu khám xét vơ vét của cải, nhưng gia đình vẫn giữ được chiếc áo an toàn.

Có một lần tản cư đến chùa Hương, bị địch bao vây, cụ Thìn bị bắt, áo quần tiền nong của gia đình bị địch lấy đi tất cả, vậy mà bà Dung vẫn giữ được tấm áo len vẹn toàn.

Một lần khác, trên đường chạy lên La Khê, Hà Tây (trước đây) gia đình cũng bị địch đón đầu lục soát, thu giữ nhiều đồ đạc tiền nong, nhưng lạ kỳ chiếc áo vẫn không bị mất.

Dù điều kiện khó khăn đến đâu, chiếc áo này vẫn được bảo quản một cách rất độc đáo mà chỉ có những người chuyên buôn hạt giống như cụ Thìn mới nghĩ ra được là dùng hạt tiêu để chống mốc, chống côn trùng và vẫn có mùi thơm.

Cuối năm 1949 vì hoàn cảnh khó khăn, gia đình cụ Thìn buộc phải trở về Hà Nội. Sống trong lòng địch, nhưng chiếc áo Bác Hồ vẫn được cất giấu cẩn thận. Ở phố Tràng Tiền, bà Dung đã giấu chiếc áo trên gác 2.

Khi ở 52 Trần Nhân Tông, địch đến bắt cụ Thìn (do tham gia chống lệnh di cư vào Nam) và lục soát khắp nhà nhưng chiếc áo Bác Hồ vẫn nguyên vẹn. Ngày 10.9.1969, sau tang lễ Bác Hồ, cụ Thìn quyết định đem chiếc áo len quý giá hiến tặng cho Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

Năm 1995, Bộ Văn hóa đã trao tặng cho cụ Trương Văn Thìn Huy chương Vì sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa. Nay cụ đã mất nhưng bức thư cảm ơn gửi cho Đảng, Nhà nước vẫn nồng nàn một tình cảm thiêng liêng với dân tộc.

Theo Đảng

Translate